Trang Chủ
Sơ Đồ
Tìm kiếm:
English
Giới thiệu VCCI                   
Đồng bằng Sông Cửu Long
Tin tức                               
Doanh nghiệp                     
Hội viên                               
Cơ hội giao thương             
Tư liệu tham khảo                
 
 
Khai giảng khóa đào tạo “Kiểm Toán Nội Bộ Chuyên Nghiệp - Ngân Hàng & Tổ Chức Tín Dụng”
Hội nghị Lúa gạo Thế giới 2010 – Nhiều thông tin hữu ích cho ngành công nghiệp trong ngành
Khai giảng khóa đào tạo “Giám đốc Kinh doanh - CCO”
Khai giảng khóa đào tạo “An ninh website và web server”
Giải Tennis Doanh nghiệp Việt Nam năm 2010
Hội thảo “Nguồn vốn cho doanh nghiệp và kinh doanh nguồn vốn nhàn rỗi”

 
 
  Nội dung Tư liệu:

Hội thảo: “Kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL sau khi gia nhập WTO” kết thúc tốt đẹp

  

Vào ngày 27/04/2007, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam – Chi nhánh tại Cần Thơ (VCCI Cần Thơ) đã tổ chức Hội thảo  “Kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL sau khi gia nhập WTO” tại Hội trường Khách sạn Lam Kiều, đường Trần Văn Khéo, Quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ.

 
    

Đơn vị tổ chức: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh tại Cần Thơ (VCCI Cần Thơ)

Tài trợ kinh phí: GTZ

Thành phần diễn giả:

  1. TS. Võ Hùng Dũng – Giám đốc VCCI Cần Thơ
  2. TS. Nguyễn Minh Châu - Viện trưởng Viện Cây ăn quả Miền Nam
  3. GS. TS. Võ Tòng Xuân - Hiệu trưởng Trường ĐH An Giang
  4. GS. TS. Bùi Chí Bửu - Viện trưởng Viện KHKT Nông nghiệp Miền Nam

 

Nội dung trình bày trong hội thảo:

 

Ông Huỳnh Phong Tranh - Ủy viên BCH TW Đảng, Phó Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phát biểu khai mạc hội thảo. Theo ông Huỳnh Phong Tranh thì vùng ĐBSCL có một số mặt mạnh như tốc độ phát triển kinh tế nhanh, sản lượng lương thực và thủy sản cao, nguồn nhân lực dồi dào… Tuy nhiên, ông cũng nêu lên một số mặt còn hạn chế của ĐBSCL mà cần khắc phục như cơ sở hạ tầng yếu kém; nguồn nhân lực còn nhiều khó khăn; khai thác tiềm năng sẵn có là chính; tầm nhìn chiến lược và định hướng phát triển vùng còn nhiều lúng túng; vùng có cơ cấu lớn về nông nghiệp nên chịu nhiều thua thiệt so với các vùng khác trong cả nước…

 

TS. Võ Hùng Dũng – GĐ VCCI Cần Thơ phát biểu về “Kinh tế ở ĐBSCL và một số đặc điểm chính của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)”. Trước hết, TS. Võ Hùng Dũng giới thiệu khái quát về mục tiêu của WTO là nhằm thúc đẩy phát triển thương mại và dịch vụ; phát triển các thể chế thị trường cũng như là giải quyết các bất đồng giữa các nước thành viên; nâng cao thu nhập và tạo thêm việc làm cho các nước thành viên. Sau đó, TS. trình bày sơ lược về các luật chơi cơ bản của WTO như là nguyên tắc cắt giảm thuế quan; xóa bỏ trợ cấp; mở cửa thị trường; ngăn cản các hành vi bóp méo thị trường; tạo sự bình đẳng cho DN trong và ngoài nước; đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ; vệ sinh môi trường. Tiếp đến là một vài số liệu tổng hợp những nét chung về tình hình kinh tế Việt Nam năm 2006 với một vài con số đáng quan tâm như tăng trưởng GDP là 8,2%; thu hút đầu tư nước ngoài đạt 10,2 tỷ đôla Mỹ, chỉ số CPI tăng 6,6%, số DN mới đăng ký là 46.660 DN, tạo việc làm mới cho 1,65 triệu người, tỷ lệ hộ nghèo còn 19%. Sau khi khái quát về tình hình kinh tế Việt Nam năm 2006 là tình hình và triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2007 với một vài con số cụ thể như GDP tăng 8,2 – 8,5%; CPI tăng thấp hơn GDP; xuất khẩu tăng 17,4%; bội chi ngân sách không quá 5% GDP… Phần tiếp theo của bài trình bày là những khó khăn mà vùng ĐBSCL đang phải đối mặt như là cơ sở hạ tầng yếu kém; trình độ học vấn và chất lượng nguồn nhân lực thấp; thu hút đầu tư nước ngoài còn ít; môi trường đang bị ô nhiễm nghiêm trọng cũng như là những điểm mạnh của vùng và cơ hội cho vùng phát triển sắp tới như là vị trí địa lý thuận lợi để thực hiện chiến lược quốc gia (mở cửa bên ngoài, kinh tế biển); nông nghiệp gắn chặt với công nghiệp, dịch vụ, du lịch. Cuối cùng, TS. đưa ra một số đề xuất và giải pháp cần thực hiện như là không tập trung vào yếu tố tài nguyên và nhân công rẻ, không quá lo lắng về cơ sở hạ tầng, tập trung phát huy những điểm mạnh đang có, xây dựng chương trình phát triển mới phù hợp với xu thế phát triển mới, xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp, thúc đẩy đầu tư tư nhân cho nông nghiệp, thay đổi công tác khuyến nông và khuyến công…

 

GS. TS. Võ Tòng Xuân – Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang trình bày về “Cơ cấu nông nghiệp ĐBSCL hậu WTO – xu thế phát triển ”. Bài trình bày được mở đầu bằng một vài tin tức thời sự về tình hình nông nghiệp vùng ĐBSCL gần đây như: thiếu mía nguyên liệu, giá vật tư phân bón tăng cao, đường và gạo Thái Lan nhập lậu tràn lan vào vùng ĐBSCL nơi vốn được mệnh danh là vựa lúa của cả nước, nhất là một số loại trái cây vốn trước đây là thế mạnh của vùng ĐBSCL mà nay cũng bị hàng Thái Lan lấn áp như sầu riêng, măng cụt, thanh long... Đây thực sự là một điều không thể chấp nhận được về lâu về dài…Sở dĩ trái cây nói riêng và hàng nông sản Thái Lan nói chung xâm nhập mạnh vào thị trường VN trong thời gian qua là vì hàng nông sản và trái cây Thái Lan chất lượng cao hơn hẳn chủng hàng cùng loại của VN mà giá cả lại hợp lý. Thêm nữa, do nhập lậu nên một số loại trái cây của Thái Lan có giá rẻ hơn cả trái cây nội địa. Ngoài ra, do nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng cao, nhất là người tiêu dùng thành thị đối với một số loại trái cây lạ và ngon, sạch bệnh như là mận không hạt Thái Lan, bưởi ruột hồng Thái Lan, sầu riêng cơm dày hạt lép Thái Lan, đặc biệt gần đây nhất là có Thăng Long ruột đỏ Thái Lan…Trong khi đó, đa số trái cây của vùng ĐBSCL không có cải tiến gì đáng kể về giống, nhất là cải tiến về chất lượng, thậm chí một số giống bị thoái hóa mà vẫn còn cố giữ để tiếp tục trồng lại đã làm cho trái cây trong vùng ĐBSCL ngày càng sa sút về chất lượng và thua kém các trái cây cùng loại nhập khẩu từ Thái Lan. Một điểm đáng chú ý nữa là đa số trái cây và hàng nông sản của Thái Lan sản xuất theo tiêu chuẩn và quy trình GAP cho nên được người tiêu dùng ưa chuộng vì đạt được tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm. Ở Thái Lan, đa số nông dân được chính phủ hướng dẫn và hỗ trợ cặn kẽ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn GAP từ khâu chọn cây giống cho đến bón phân cho đến thu hoạch rồi cả khâu chế biến và bảo quản sau thu hoạch cũng được chính phủ hỗ trợ. Ngay cả đến khâu tiêu thụ sản phẩm Thái Lan cũng làm rất là bài bản và chuyên nghiệp như là có sự kết hợp giữa các nhà bán lẻ với hệ thống siêu thị để rồi từ đó chia nhỏ ra thành những đại lý ở nhiều nơi để thu mua hàng hóa tận nơi sản xuất. Nhất là một số nơi còn cử nhân viên đến giám sát và thẩm tra thường xuyên quá trình sản xuất để ghi chép sổ sách và xem xét xem quy trình sản xuất đó có an toàn và phù hợp với tiêu chuẩn đề ra hay không. Tiếp theo, GS. trình bày về thực trạng nông nghiệp vùng ĐBSCL với một số yếu kém tồn tại cần khắc phục như là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu tập trung, giống cây không đạt chất lượng, không phân loại sản phẩm sau thu hoạch…Thêm vào đó, nông dân và doanh nghiệp trong vùng thiếu tinh thần hợp tác: tranh mua tranh bán, thích mua hàng trôi nổi, giá rẻ dẫn đến mất lòng tin lẫn nhau…Tiếp đến, GS. Xuân trình bày một số hình ảnh minh họa cho thấy nông nghiệp vùng ĐBSCL rất lạc hậu so với các nước khác trong khu vực như Thái Lan và Nhật Bản, chẳng hạn như là cách bố trí và trình bày sản phẩm không bắt mắt, hỗn tạp, lộn xộn nhiều thứ trong cùng một rọ; thêm nữa, cách vận chuyển và chuyên chở cũng không đảm bảo an toàn, nơi lưu trữ hàng hóa không được vệ sinh; không có biện pháp bảo quản để giảm thất thoát sau thu hoạch. Trong khi đó, ở Thái Lan và Nhật Bản thì họ bày bán theo chủng loại, loại nào ra loại đó; họ đựng trong những cái giỏ nhựa với những kích cỡ khác nhau phù hợp với từng loại trái cây khác nhau trông rất bắt mắt; thêm vào đó, họ đóng gói và vô bao trong những cái thùng các-tông và xốp với đầy đủ thông tin về chủng loại sản phẩm được in bằng chữ lớn rõ ràng, dễ đọc. Đối với một số loại trái cây dễ hư, dễ dập nát như táo, lê, nho, chuối… thì họ bao bằng một lớp lưới xốp bên ngoài để tránh bị trầy xước và bầm dập khi di chuyển. Ngay cả đến khâu tiêu thụ sản phẩm thì Thái Lan làm cũng rất chuyên nghiệp, họ dành những khu vực riêng biệt cho từng chủng loại trái cây với chế độ bảo quản ngặt nghèo và được làm lạnh liên tục để trái cây không bị hư, thối; trong từng gian hàng có niêm yết giá của từng loại sản phẩm tùy theo chất lượng...GS. đề xuất là vùng ĐBSCL cần phải cải tiến giống sao cho tốt hơn, nâng cao chất lượng hơn nữa thì mới mong có thể cạnh tranh nổi với hàng nông sản của Thái Lan và chức năng của nhà nước cần được nâng cao hơn nữa…

 

TS. Nguyễn Minh Châu – Viện Cây ăn quả miền Nam trình bày “Cơ hội nào cho trái cây vùng ĐBSCL hậu WTO”. Mở đầu bài trình bày, TS. Châu giới thiệu sơ lược về tình hình phát triển cây ăn trái trong những năm gần đây của vùng ĐBSCL với một vài số liệu cụ thể như diện tích cây ăn trái năm 2004 là 273.226 ha; hiệu quả kinh tế của cây ăn quả tại một số nơi trong vùng ĐBSCL khá cao, cụ thể là cây cam sành cho hiệu quả kinh tế trên 500 triệu đồng/ha tại Cái Bè, Tiền Giang. Ngoài ra, một số mô hình trồng cây ăn quả kết hợp với các loại cây trồng khác trong thời gian gần đây cũng cho hiệu quả kinh tế khá cao như là mô hình trồng ổi xá lỵ xen cây chanh ở Long Tuyền, Bình Thủy, Cần Thơ cũng mang lại thu nhập trên 400 triệu đồng/ha…Tiếp theo, TS. Châu trình bày là những điều nhà vườn vùng ĐBSCL cần phải quan tâm khi gia nhập WTO là không chỉ khi đã gia nhập WTO rồi mới xuất khẩu hàng nông sản đi các nước trên thế giới thì mới cần đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và an toàn thực phẩm mà ngay cả khi cung cấp cho thị trường nội địa thì nhà nông cũng cần phải sản xuất an toàn; trái cây vùng ĐBSCL muốn xuất khẩu được và gây uy tín trên trường quốc tế thì phải có được chứng nhận xuất sứ hàng hóa và đảm bảo kỹ thuật nuôi trồng theo GAP; nhà vườn vùng ĐBSCL cũng cần chú ý tập trung trồng cải tiến các giống cây bị thoái hóa và nhân giống nhiều hơn nữa các giống cây đặc sản của Việt Nam. Thêm vào đó, hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại mà nhà vườn vùng ĐBSCL đang đối mặt như là chất lượng cây giống kém chất lượng; tỷ lệ nhiễm chéo bệnh các loại cây có muối tăng do thiếu liên kết trong sản xuất, mạnh ai nấy làm và xịt thuốc theo cách riêng của mình; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không theo hướng dẫn; dư lượng thuốc trừ sâu trong các loại trái cây thường quá mức cho phép; công nghệ bảo quản sau thu hoạch còn kém; chưa có nhiều chợ trái cây bán sỉ; chưa có phòng giám định thuốc bảo vệ thực vật; bao bì đựng trái cây còn lạc hậu và trang trí không bắt mắt, thiếu thông tin về sản phẩm; đường xá vào các vùng sản xuất còn nhỏ nên xe lớn không thể vào thu mua; chưa quản lý tốt an toàn vệ sinh thực phẩm; làm ăn riêng rẻ không hợp tác nên số lượng cung cấp không đủ giao cho siêu thị. Thêm vào đó, nhà vườn vùng ĐBSCL cần phải thay đổi nề nếp sản xuất theo kiểu tư duy cũ để cho trái cây vùng ĐBSCL phát triển nhanh và bền vững như là việc sản xuất và buôn bán cây giống phải được quản lý tốt hơn; sản xuất phải an toàn và phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, cụ thể ở đây là phải sản xuất theo quy trình GAP; vị trái cây phải ngon và bao bì phải đẹp, nhất là phải cố gắng để đạt tiêu chuẩn quốc tế; chính phủ nên nhanh chóng xúc tiến ký kết các hiệp định kiểm dịch thực vật với các nước nhập khẩu; phải đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn nhiều hơn nữa để việc vận chuyển hàng hóa được thuận lợi hơn; các nhà sản xuất phải liên kết lại với nhau để sản xuất đồng bộ; nông dân phải được huấn luyện kỹ thuật nuôi trồng, chăm sóc, nhất là bảo quản sau thu hoạch và chính quyền địa phương phải cung cấp thông tin thị trường cho nông dân. Cuối cùng, theo TS. Châu nhận định thì khó có biến động to lớn sau khi gia nhập WTO vì VN đã hội nhập nhiều năm nay rồi có chăng chỉ là hội nhập sâu hơn mà thôi; do diện tích trồng cây ăn trái ngon với phẩm chất cao sẽ ngày càng nhiều nên trái cây vùng ĐBSCL sẽ không có gì thay đổi lớn sau khi gia nhập WTO; trái cây Thái Lan sẽ không đe dọa gì nhiều trái cây vùng ĐBSCL nếu xét về lâu dài vì Thái Lan xuất khẩu trái cây không chỉ sang VN mà thôi mà còn nhiều nước khác như là Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kong. Singapore …Vấn đề ở đây là liệu nhà vườn vùng ĐBSCL có chịu thay đổi tư duy và cách sản xuất hay không?

 

GS. TS. Bùi Chí Bửu – Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam trình bày về “Ngành sản xuất lúa gạo ở vùng ĐBSCL” sau khi gia nhập WTO. Trước hết, GS. khẳng định rằng nhiệm vụ và mục tiêu chung của vùng là cần phải đảm bảo an toàn lương thực và có khả năng cạnh tranh cao về chất lượng nông sản để gia tăng thu nhập người trồng lúa và mục tiêu cụ thể của vùng là phát triển giống lúa có năng suất cao và giống có phẩm chất gạo ngon nhằm đáp ứng thị hiếu cho thị trường nội địa và xuất khẩu. Kế đến, GS đưa ra một vài nhận định về khả năng cạnh tranh của gạo VN trên trường quốc tế như là phải xem xét lại diện tích gieo trồng và điều chỉnh sao cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng; kỹ thuật sản xuất gạo phải được cải tiến để phù hợp hơn khi gia nhập, như hiện nay là khá lạc hậu, để đáp ứng nhu cầu của các siêu thị trong quá trình công nghiệp hóa; phải phát triển thủy lợi nông thôn mạnh hơn nữa, nhất là phải cơ giới hóa khâu sản xuất và thu hoạch càng nhanh càng tốt; nông dân phải trồng lúa bằng tri thức chớ không chỉ bằng kinh nghiệm; vùng ĐBSCL phải xây dựng một phương thức quản lý tổng hợp, đa ngành. Cuối cùng, GS kiến nghị một số giải pháp để tăng khả năng cạnh tranh của vùng như là nâng cao trình độ nông dân; cải tiến hệ thống tín dụng cho vay cho nông nghiệp nông thôn; đem công nghệ thông tin đến với nông dân, nhất là Internet để nông dân được thụ hưởng nhiều hơn lợi ích của hiện tượng bùng nổ thông tin toàn cầu; nhà nước cũng có vai trò rất quan trọng bằng cách hỗ trợ chính sách và giúp đỡ đào tạo để nông dân có tri thức để họ có những quyết định đúng đắn trên chính thửa ruộng của mình...

 

Bà Nguyễn Thị Thương Linh – Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ DNNVV – VCCI Cần Thơ, trình bày sơ lược tài liệu SIYB nông thôn, một trong những tài liệu hữu ích và cần thiết để hướng dẫn nông dân làm kinh doanh.

 

Sau khi hội thảo kết thúc, các đại biểu tham dự đều cho rằng hội thảo này là cần thiết và việc cần thiết hơn nữa là các lãnh đạo các địa phương cũng như là các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu cần phải làm gì đó để vực dậy tiềm năng của vùng, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn nhằm đưa kinh tế vùng ĐBSCL phát triển nhanh và bền vững, nhất là nông nghiệp trong giai đoạn sau hội nhập WTO.

 

Xem thêm biên bản hội thảo, click vào đây.

 

Thanh Bình

 
 
HỘI VIÊN ĐĂNG NHẬP
  Tên:
  Mật khẩu:
 
QUẢNG CÁO

Copyright © 2005-2010 VCCICANTHO. All Rights Reserved.