HỘI THẢO PHẢN HỒI PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG

Cần Thơ 7-8/9/04

---------------

Phần I: Khai mạc hội thảo

Phần II: Nội dung hội thảo

   NGÀY LÀM VIỆC THỨ NHẤT (BUỔI CHIỀU)

   NGÀY LÀM VIỆC THỨ HAI: (08/9/04)

      BUỔI SÁNG:

              1- Tŕnh bày của tiến sĩ Lothar Mahnke:

              2- Tŕnh bày của chị Vơ Hoàng Nga – GTZ: Một số mô h́nh PTKTĐP tại Đức

              3- Tŕnh bày – VCCI Cần Thơ: Bài học cho PTKTĐP tại Việt Nam

              Câu hỏi thảo luận nhóm:

                    Nhóm I:

                    Nhóm II:

                    Nhóm III:

        BUỔI  CHIỀU

              Câu hỏi thảo luận:

                        Nhóm I:

                        Nhóm II:

              Thảo luận mở:

              Tổng kết hội thảo:

 

Phần I: Khai mạc hội thảo

Để thu nhận các kết quả ứng dụng khái niệm PTKTĐP tại khu vực ĐBSCL, miền Trung và miền Bắc, Pḥng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh tại Cần Thơ đă phối hợp với dự án GTZ SME Promotion tổ chức hội thảo “Phản hồi phát triển kinh tế địa phương” trong hai ngày 07 và 08 tháng 9 năm 2004 tại TP. Cần Thơ. Qua hội thảo, các đại biểu đă chia sẻ kinh nghiệm về PTKTĐP từ các tỉnh của Việt Nam và của Đức. Mục đích xa hơn là qua hội thảo có thể duy tŕ sự liên kết giữa các chuyên gia và lănh đạo trong vùng trong khuôn khổ chương tŕnh PTKTĐP.

Để phát triển kinh tế địa phương, rất cần thiết huy động nhiều yếu tố cấu của địa phương, đó là yếu tố địa lư, nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên… Ngoài ra, các cấp chính quyền c̣n cần phải quan tâm giải quyết các vướng mắc thuộc về chính sách tại địa phương, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động. Các yếu tố cơ bản trên của địa phương chỉ là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, để tận dụng các nguồn lực đó hiệu quả, rất cần thiết phải liên kết và phối hợp giữa các nhân tố tại địa phương.

Tham gia hội thảo có 30 đại biểu là lănh đạo, chuyên viên từ các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, từ miền trung và khu vực phía Bắc. Qua hội thảo đă thu nhận các kết quả khá đầy đủ về kết quả vận dụng Phát triển kinh tế địa phương từ khắp các khu vực của Việt Nam và các kinh nghiệm rất có giá trị, là cơ sở cho các bước tiếp theo của Chương tŕnh trong thời gian tới.

Tham dự hội thảo c̣n có Ông Vơ Hùng Dũng – Giám đốc VCCI Cần Thơ, Bà Corina Kusel - cố vấn trưởng dự án Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của Đức, Ông Lothar Mahnke – Giám đốc điều hành công ty Regionomica.

Trở về đầu trang

Phần II: Nội dung hội thảo

 

NGÀY LÀM VIỆC THỨ NHẤT (BUỔI CHIỀU)

 

1- Các đại biểu giới thiệu:

Đại biểu giới thiệu họ tên, nơi công tác, công việc có liên quan đến phát triển kinh tế địa phương, mong muốn khi đến tham gia hội thảo và mỗi đại biểu vẽ một h́nh ảnh minh hoạ cho quan điểm của ḿnh về phát triển kinh tế địa phương.

Kết quả:

Các đại biểu kỳ vọng qua hội thảo sẽ có cơ hội học tập và trao đổi kinh nghiệm; Đẩy mạnh khởi sự doanh nghiệp; Hiểu sâu hơn về chương tŕnh; Vận dụng kiến thức đạt được để khắc phục các khó khăn tại địa phương; Xây dựng chương tŕnh hợp tác cho PTKTĐP; Mong nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn từ GTZ; Tiếp tục hợp tác với địa phương và VCCI về đào tạo cán bộ để đẩy mạnh PTKTĐP; Tạo sự liên kết các cơ quan, ban ngành, sử dụng kiến thức phương pháp để tác động các cơ quan hữu quan; Ứng dụng các kiến thức đạt được để giúp SME phát triển; Phổ biến kiến thức phát triển kinh tế địa phương cho DN; Kết nối những người làm PTKTĐP.

Các h́nh ảnh và ư nghĩa:

-         2 bàn tay bắt nhau thể hiện cho sự liên kết giữa các lănh đạo của các cấp chính quyền với nhau.

-         Cần câu câu cá: thể hiện tầm quan trọng của kiến thức so với viện trợ bằng tài chính

-         Con đường và 1 ô đất: Chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển doanh nghiệp mới

-         H́nh ảnh minh họa cho sự liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp và GTZ

-         Chậu kiểng và đồng tiền: quan tâm đến môi trường và vốn cho phát triển kinh tế

-         H́nh ảnh tượng trưng cho sự liên kết giữa nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp, người xúc tiến thương mại và thị trường

-         Ngôi nhà – mái nhà chung: hợp tác giữa VCCI và DN để phát triển kinh tế

-         Ngôi trường và bệnh viện: muốn thu hút đầu tư của xă hội đối với lĩnh vực giáo dục và y tế để nâng cao chất lượng cuộc sống

-         H́nh ảnh tượng trưng cho phát triển lĩnh vực nông thủy sản xuất khẩu và đội ngũ doanh nghiệp

-         H́nh ảnh tượng trưng cho mong muốn phát triển hợp tác xă ngang bằng với tŕnh độ HTX ở Đức

-         Mong muốn có thể tác động đến chính quyền tỉnh và DN bằng kiến thức PTKTĐP, để tự ḿnh đánh giá lại chính ḿnh

-         H́nh ảnh tượng trưng cho cầu nối giữa các doanh nghiệp

-         Các ṿng tṛn liên kết với nhau và ngôi sao mai: hợp tác v́ ngày mai phát triển

-         Cây vợt tennis và quả bóng: tính linh họat trong phát triển kinh tế

-         Ṿng tṛn với nhiều điểm: mong muốn tạo ra sự liên kết (mạng lưới) để vượt qua trở ngại

-         Các bông hoa và các đồng đô la: sáng kiến mới và biến nó thành tiền

2- Đại diện của GTZ, chị Vơ Hoàng Nga đă tóm tắt về các cấu phần PTKTĐP từ năm 2003 đến nay và một vài hoạt động Phát triển kinh tế địa phương ở Đức.

3- Ông Trần Anh Nhật, đại diện Liên Minh HTX Hưng Yên đă nêu những ứng dụng vào công việc sau khi tham dự hội thảo PTKTĐP. Đại biểu của tỉnh Hưng Yên đă chia sẻ cho các đại biểu một vài hoạt động ứng dụng chương tŕnh LED vào hoạt động kinh tế và hoạch định chính sách của tỉnh.

Hỏi & đáp của đại biểu:

Các công cụ & chính sách PTKTĐP tỉnh đưa ra có được đánh giá lại không?

Trả lời:

Hưng Yên có lợi thế gần Hải Pḥng, Hà Nội, Hải Dương, v́ vậy hấp dẫn nhà đầu tư, thực tế là tỉnh đă thu hút 250 dự án; chính quyền tỉnh rất quan tâm thúc đẩy DNVVN phát triển, trong 2 năm qua đă thành lập 515 DN, thúc đẩy và tạo điều kiện cho các hiệp hội DN ra đời, thường xuyên tổ chức các cuộc đối thọai giữa chính quyền và doanh nghiệp.

Hỏi: Chính sách ưu đăi đầu tư xem ra cao hơn mức của trung ương: giá đất, chi phí đền bù, ưu đăi về thuế thu nhập DN với mức thấp nhất và thời gian dài nhất. Như vậy nguồn tài chính phục vụ cho vấn đề này được giải quyết như thế nào, ngân sách tỉnh đảm bảo đựơc không; mặt khác, miễn giảm thuế DN với thời gian tối đa, nhưng cấu trúc của thuế là ngành dọc, các cơ quan thuế và địa phương có gặp trở ngại không?

Trả lời:

Năm 2003 Hưng Yên đă xây dựng và ban hành các ưu đăi đầu tư; trong thực tế việc thu hút đầu tư phụ thuộc nhiều yếu tố mà không chỉ là các ưu đăi đầu tư; chính sách thuế là do tổng cục thuế ban hành, không thể thay đổi được. Đối với Hưng Yên, thuế áp dụng cho các nhà đầu tư vẫn trong khung do Chính phủ ban hành, nhưng nó ở mức thấp nhất, được áp dụng cho những huyện nằm trong vùng khó khăn. Riêng việc hỗ trợ đền bù giải phóng mặt bằng, chính quyền phải giải toả với mức giá cao hơn qui định. Tỉnh lấy các khoản kinh phí sau khi dự án hoàn thành để giải quyết vấn đề tài chính.

4- Bà Chung Thị Kim Minh, Trung tâm Xúc tiến Thương mại Kiên Giang đă giới thiệu những nhận thức mới về PTKTĐP và các yếu tố, công cụ PTKTĐP phù hợp nhất cho tỉnh Kiên Giang.

Hỏi & đáp:

Hỏi: Các công cụ PACA đă được áp dụng trong những lĩnh vực ǵ ở Kiên Giang?

Trả lời: Đă có các đề xuất áp dụng các công cụ PACA vào các ngành hay lĩnh vực cụ thể nhưng chỉ là ở mức kế hoạch v́ tỉnh đang thiếu chuyên gia để thực hiện. Hy vọng Kiên Giang sẽ tham gia vào chương tŕnh đào tạo chuyên gia PTKTĐP của GTZ, để giải quyết vấn đề nhân lực cho PTKTĐP của tỉnh.

5- Chị Nguyễn Ngọc Tường Ngân, đại diện VCCI Cần Thơ đă tŕnh bày sự vận dụng kiến thức PTKTĐP và khái niệm BDS vào các chương tŕnh hoạt động của VCCI Cần Thơ.

Ư kiến:

PACA đă đem lại cách nh́n mới đối với PTKTĐP, đă thay đổi cách nghĩ cho lănh đạo các cấp, tạo ra cách nh́n mới cho cách thức hỗ trợ, cũng như công tác thu hút đầu tư, đă tác động đến việc cải thiện mối quan hệ với DN, tạo h́nh ảnh cho chính quyền, tránh tư tưởng duy ư chí. Trong sự hỗ trợ của VCCI Cần Thơ, Sở Công nghiệp Đồng Tháp đang áp dụng các công cụ của PACA vào việc xây dựng đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến và thủ công mỹ nghệ giai đoạn đến năm 2010. Các DN đang được huấn luyện phương pháp mới, các ư kiến từ các DN sẽ được sàn lọc và tổng hợp để h́nh thành 2 đề án.

Ư kiến: Tỉnh Kiên Giang đă từng vận dụng phương pháp PACA vào đề tài nâng cao năng lực cho ngành công nghiệp chế biến của tỉnh, đưa PACA vào khảo sát năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (hội thảo nhỏ, điều tra phỏng vấn…), nhưng tiến tŕnh c̣n rời rạc. Đề nghị trong thời gian tới nhận được hỗ trợ từ GTZ và VCCI trong việc áp dụng PACA, phổ biến các công cụ của PACA vào địa phương.

6- Bà Corina Kusel đă có những thông tin về chương tŕnh và các họat động tương lai của GTZ về PTKTĐP.

Câu hỏi: Các điều kiện là ứng viên của chương tŕnh huấn luyện PACA sắp tới do GTZ tổ chức là ǵ, nội dung cơ bản của diễn đàn là ǵ?

Trả lời (Bà Corina Kusel): Chưa có một quyết định chính thức nào từ phía GTZ cho chuyến tập huấn tại Đức này, đây chỉ là các thông tin ban đầu, khi có kết quả GTZ sẽ có công văn chính thức gửi các đối tác. Về diễn đàn đối thọai: ư định của GTZ là thành lập kênh trao đổi thông tin giữa các nhà lănh đạo, chuyên viên chủ chốt của chương tŕnh LED, từ đó có thể vạch ra kế họach cụ thể và đẩy mạnh hoạt động PTKTĐP, trong đó có sự tham gia của lĩnh vực tư nhân. Qua diễn đàn có thể thu thập thông tin phản hồi từ các cơ quan chủ chốt và doanh nghiệp tại địa phương.

Tổng kết ngày thứ nhất:

Qua ngày thứ nhất, các đại biểu đă cung cấp các kết quả và kinh nghiệm rất có giá trị trong phát triển kinh tế địa phương, như từ Hưng Yên, Kiên Giang, VCCI Cần Thơ. Các đại biểu đă làm rơ một số chính sách đầu tư của Hưng Yên, và đă thấy Hưng Yên là điểm sáng thu hút đầu tư và PTKTĐP. Ngoài ra, GTZ đă cung cấp thông tin về chuyến nghiên cứu phát triển KTĐP ở Đức vào trong thời gian vừa qua, cũng như việc ứng dụng khái niệm và công cụ PACA vào hoạt động hỗ trợ của ḿnh trong vùng. Kỳ vọng của đa số các đại biểu là thành lập một network về thực hiện PTKTĐP.

Trở về đầu trang

NGÀY LÀM VIỆC THỨ HAI: (08/9/04)

BUỔI SÁNG:

1- Tŕnh bày của tiến sĩ Lothar Mahnke: Một dự án PTKTĐP bao gồm 5 bước:

-         Bước 1: Hiểu LED là ǵ và những ǵ có thể là PTKTĐP? Bước này chúng đă đạt đựơc.

-         Bước 2: Xác định câu hỏi “chúng ta muốn điều ǵ?. Kinh nghiệm PTKTĐP từ bên Đức là khi cấp trung tương đưa ra các kế hoạch cho địa phương làm th́ sẽ không có hiệu quả, mà các hoạt động của địa phương phải xuất phát từ nhu cầu của địa phương, phải được chính các tác nhân của địa phương thực hiện. Phương pháp ứng dụng để t́m ra các hoạt động của địa phương có hiệu quả đó là PACA, hay có thể thuê chuyên gia từ nước ngoài đánh giá tiềm năng của địa phương. Một ví dụ minh hoạ: Việt Nam có tiềm năng về rau quả, nhưng nước khác như Thái Lan, Ấn Độ… cũng có tiềm năng tương tự. Trong khi một đất nước như Đức người dân rất thích uống nước xoài ép. Một vấn đề cho các nhà sản xuất của Việt Nam muốn tham gia vào thị trường xoài ép tại Đức là có thể sản xuất nước xoài ép như người tiêu dùng Đức mong muốn không? có kênh phân phối ở Đức hay chưa? Nếu các nhà sản xuất đổ xô nhau sản xuất nước xoài ép khi chưa t́m hiểu nhu cầu thị trường và thị hiếu khách hàng th́ sẽ có sự cạnh tranh nhau gay gắt và việc sản xuất và kinh doanh sẽ không hiệu quả.

-         Bước 3: Tạo ra diễn đàn đối thoại: để tạo ra cơ hội thảo luận giữa chính quyền, các tổ chức trung gian và doanh nghiệp về chính sách, từ đó thu hút các dự án cũng như có kế hoạch đạo tạo nguồn nhân lực.

-         Bước 4: Vạch kế họach hành động: kinh nghiệm từ các dự án thành công là các chương tŕnh của địa phương đều có ban chỉ đạo để khởi xướng quá tŕnh vạch kế hoạch hành động, cũng như đặt ra kế hoạch đào tạo cụ thể.

-         Bước 5: Giám sát và đánh giá.

Thực hiện một dự án PTKTĐP là một quá tŕnh, trong đó có nhiều yếu tố của địa phương tham gia thực hiện, việc tổ chức hội thảo chỉ là một khâu trong quá tŕnh đó.

Trở về đầu trang

2- Tŕnh bày của chị Vơ Hoàng Nga – GTZ: Một số mô h́nh PTKTĐP tại Đức

Câu hỏi của đại biểu: Trong 12 tỉnh ĐBSCL đă có ban chỉ đạo (thuộc Đảng) tiến hành chỉ đạo từ cấp trên xuống, trong khi chưa có liên kết chính thức nào, khi liên kết phạm vi 12 tỉnh là có quá lớn không?

Trả lời:

Mô phỏng mô h́nh liên kết vùng của Đức vào ĐBSCL là không khả thi do giữa hai nước có các nguồn lực và t́nh h́nh khác nhau. Nhưng có một điều có thể nhận thấy là mối liên kết có thể được tạo ra do chính quyền của các tỉnh thỏa thuận để khai thác các nguồn lợi chung để phát triển kinh tế. Ví dụ, 3 thành phố ở Đức, Hà Lan và Bỉ h́nh thành nên liên kết biên giới, tạo ra thế mạnh riêng cho vùng. Sự liên kết có vai tṛ rất quan trọng cho thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng, nhưng để các nhà lănh đạo địa phương hiểu và chấp nhận điều đó th́ phải mất một khoản thời gian dài. Ở Đức người ta phải mất 20 năm mới có thể hiểu ra sự hợp tác và liên kết.

Trong liên kết không nên dựa vào qui mô dân số hay diện tích, điều quan trọng là xác định lợi thế chung của vùng. Ví dụ, một số tỉnh của ĐBSCL có mong muốn thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng các nhà đầu tư biết rất ít về địa phương. Khi đó các địa phương có thể thông qua VCCI để giới thịêu tiềm năng của địa phương này cho các nhà đầu tư. Một ví dụ khác là khi Kiên Giang hay An Giang có mong muốn phát triển mối hợp tác biên giới với Campuchia th́ có thể tiến hành giữa Kiên Giang và Campuchia hay An Giang với Campuchia, nhưng khi có sự liên kết 3 chiều (giữa Campuchia, Kiên Giang và An Giang) th́ hoạt động phối hợp khai thác tiềm năng sẽ có khả thi hơn.

Hỏi:

Phương pháp truyền thống của các tỉnh của Việt Nam là khi cơ quan chuyên môn muốn có đề xuất dự án phải qua rà soát của Hội đồng nhân dân, phương pháp LED có lợi điểm ǵ so với phương pháp truyền thống đó để xác định lợi thế của địa phương và xây dựng chính sách tốt hơn?

Trả lời: Vừa qua có chỉ đạo liên kết vùng nhưng chỉ mang tính hành chính mà bỏ qua yếu tố hiệu quả trong phát triển kinh tế. Sự khác biệt giữa hai phương pháp là LED đánh giá được tầm quan trọng của các doanh nghiệp địa phương trong trong quá tŕnh phát triển. V́ vậy khi không xem xét hay không có sự tham gia của DN trong giai đọan đầu của tiến tŕnh họach định th́ dự án sẽ không có hiệu quả.

Hỏi: Xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế của ĐBSCL là lúa gạo và thủy sản chưa thể cạnh tranh mạnh với các nước v́ chưa có sự liên kết. Khi thương hiệu riêng, giá trị sản phẩm sẽ được cao hơn và thế mạnh của vùng sẽ tăng lên đáng kể. V́ vậy rất cần thiết để định hướng cho DN có sự liên kết và hợp tác, cũng như có cơ chế và chính sách hợp lư (ưu đăi về tín dụng, đầu tư cơ sở hạ tầng), nhưng phải xuất phát từ nhu cầu của DN.

Trả lời: Ở Đức ngoài chính quyền địa phương chăm lo phát triển kinh tế, c̣n nhiều cơ quan khác tham gia, hơn nữa khi đặt vấn đề phát triển kinh tế các lănh đạo địa phương thường quan trọng vấn đề giải quyết việc làm, trong khi Việt Nam quan trọng việc tăng trưởng GDP. Lợi điểm của việc chú ư giải quyết công ăn việc làm là có thể tăng trưởng GDP, trong khi tăng GDP chưa chắc đă tạo ra công ăn việc làm. Mặt khác, sẽ thúc đẩy sự phối hợp giữa các tỉnh với nhau trong phát triển thay v́ cạnh tranh nhau. Trong thu hút đầu tư, chúng ta thường chú ư giá đất, mức thuế, trong khi bên phía Đức lại quan trọng sự an toàn, sự hiệu quả khi đầu tư… hay nói cách khác là quan trọng các yếu tố mềm; hơn nữa, các DN xem việc hỗ trợ của các tác nhân là cơ sở cho sự phát triển, trong khi các DN Việt Nam luôn mong có sự hỗ trợ lâu dài.

Trở về đầu trang

3- Tŕnh bày – VCCI Cần Thơ: Bài học cho PTKTĐP tại Việt Nam

 

Câu hỏi thảo luận nhóm: Các điều kiện tiền đề cho quá tŕnh PTKTĐP tại tỉnh anh/chị là ǵ?

 

Kết quả thảo luận:

Nhóm I:

 

Ư TƯỞNG

GIẢI PHÁP

Bám chặt chủ trương của Nhà nước về vùng kinh tế trọng điểm để xây dựng kinh tế vùng

Đào tạo, tập huấn cho cả lănh đạo và tạo mạng lưới cốt cán về PACA

Nghiên cứu nguồn lực của từng tỉnh để tập hợp đưa ra giải pháp cho vùng

Đào tạo nguồn nhân lực

Xác định thế mạnh của địa phương về lĩnh vực, ngành nghề mũi nhọn trọng điểm có tác động đến khu vực khác

Nghiên cứu nhu cầu của doanh nghiệp

Nối thông tin với DN, xem DN là chính

Đưa ra những ư tưởng táo bạo về PTKTĐP

Có nhu cầu về giải quyết việc làm

Thống nhất tư tưởng, mong muốn PTKTĐP (thu nhập, việc làm) giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân

 

Được sự ủng hộ của cơ quan chính quyền, DN

Đưa ra những ư tưởng táo bạo PTKTĐP

Xác định thế mạnh của địa phương về lĩnh vực, ngành nghề mũi nhọn có tác động đến các khu vực khác

 

Thống nhất của lănh đạo các tỉnh để làm cơ sở cho đơn vị chuyên môn đề xuất

 

Trở về đầu trang

 

Nhóm II:

 

Quan trọng nhất là vấn đề xây dựng nhận thức về PTKTĐP trong nguồn nhân lực của địa phương

 

Nhận thức

Nhóm cán bộ khởi xướng

Phương pháp/cách tiếp cận

Vấn đề khác

Làm chuyển biến nhận thức lănh đạo tỉnh về PTKTĐP.

Phổ biến, hướng dẫn, tập huấn nội dung chương tŕnh PTKTĐP đến chính quyền cấp tỉnh, sở, ngành.

Giới thiệu một số khái niệm, ư tưởng sơ bộ về PTKTĐP cho các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức đ̣an thể và DN.

Phổ biến, hướng dẫn, tập huấn nội dung chương tŕnh PTKTĐP đến cấp tỉnh, sở, ngành.

Nhận thức của DN.

Tư duy của lănh đạo

Nhận thức đầy đủ về PTKTĐP theo quan điểm PACA.

Xin chủ trương của lănh đạo địa phương về việc tổ chức các cuộc hội thảo.

Tỉnh tăng cường hỗ trợ DN, tạo điều kiện cho DN tham vấn kế họach PTKTĐP

Phổ biến kiến thức PTKTĐP đến DN

Thành lập nhóm cấp tỉnh để đào tạo chuyên sâu về phương pháp triển khai chương tŕnh PKTĐP.

Tổ chức: chức năng, quyền hạn

Dự trù kinh phí cho các cuộc hội thảo PTKTĐP cho lănh đạo.

Xây dựng mạng lưới cốt cán PTKTĐP tại địa phương.

Qui họach kinh tế - xă hội

Lập dự án PTKTĐP.

Xác định ngành nghề trọng điểm.

Chọn công cụ phù hợp (chuỗi giá trị, cụm DN)

PTKTĐP thông qua phát triển DN

Đào tạo chuyên gia phân tích PACA, SWOT

Có các chuyên gia về PTKTĐP từ bên ngoài.

Tập huấn các phương pháp thu thập, thông tin dữ liệu về PTKTĐP.

Kỹ năng về phương pháp PACA.

Khảo sát, đánh giá, xem xét một số tiềm năng, thuận lợi hay khó khăn để phát triển KTĐP

DN: tiếp cận vốn ưu đăi.

Tổ chức bộ phận hỗ trợ DN.

Khởi sự DN

Tăng cường cung cấp dịch vụ cho DN.

Tăng cường đối thọai cơ quan và DN.

“Cơ chế 1 cửa, một khóa”.

Chính sách đầu tư ưu đăi.

Tăng cường năng lực cán bộ.

Lực lượng lao động lớn và lành nghề.

 

Trở về đầu trang

 

Nhóm III: Thành lập mô h́nh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Ư kiến: Một nhà đầu tư có thể chọn kinh doanh ở lĩnh vực thuộc về xă hội, văn hoá hay kinh tế. V́ vậy sự thống nhất giữa chính quyền, nhà nước và DN là đặc biệt quan trọng để qui động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế của địa phương. Trong thời gian vừa qua, các tỉnh của ĐBSCL ít chú trọng phát triển kinh tế tư nhân. V́ vậy rất cần thiết làm chuyển biến nhận thức của các tác nhân ở địa phương để tận dụng các nguồn lực địa phương cho phát triển khu vực kinh tế.

Phản hồi – Dr. Lothar Mahnke:

Trong phần tŕnh bày của nhóm, các đại biểu đă ư thức được sự tăng cường sự liên kết và hợp tác giữa khối nhà nước và tư nhân. Điều này hoàn toàn hợp lư, bởi v́ lĩnh vực tư nhân luôn muốn tăng thu nhập cho ḿnh, trong khi đó nhà nước quan tâm đến tăng trưởng GDP và chỉ tiêu kinh tế ở tầm vĩ mô. V́ vậy rất cần thiết t́m ra đồng thuận giữa 2 khu vực này, để thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. Trong hoạch định và thực hiện, chỉ đạt hiệu quả khi có sự tham gia lănh đạo địa phương, lănh đạo nhà nước và lĩnh vực tư nhân tham gia. Điều quan trọng hơn là t́m ra một người được các tác nhân địa phương tôn trọng, để có thể thuyết phục ư tưởng về PTKTĐP được đưa ra. Mặt khác, không nên thực hiện nhiều dự án cùng một lúc mà nên ưu tiêu một ít dự án quan trọng, các dự án khác sẽ tuần tự được thực hiện trong những năm tiếp theo. Vấn đề vốn: chúng ta xây dựng phương pháp tiếp cận, chiến lược thực hiện là cơ sở để thu hút các nhà đầu tư. Hơn nữa vấn đề phát triển xă hội và PTKTĐP không phải là hai con đường riêng biệt mà chúng có có liên quan mật thiết với nhau.

Trở về đầu trang

CHIỀU NGÀY 08/9/04

 

Câu hỏi thảo luận:

 

Anh chị hăy chọn một họat động PTKTĐP cụ thể và đề ra kế họach?

 

Nhóm I:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



Trở về đầu trang

 

NHÓM II:


Phản hồi:

Nhóm I đă vạch ra kế hoạch tổng thể và chi tiết cho họat động, và cũng đă xác định những sản phẩm có lợi thế và có nhu cầu mạnh ở địa phương (ví dụ như nông sản); Nhưng các đại biểu đă chú trọng nhiều đến tiềm năng của địa phương mà thiếu sự chú ư vào nhu cầu thị trường. Nên xây dựng thương hiệu riêng cho các sản phẩm có lợi thế so sánh để tạo ra lợi thế riêng cho địa phương.

Nhóm cũng đă đưa ra giải pháp xúc tiến đầu tư là bằng các ấn phẩm về danh mục đầu tư, nhưng đây là cách có hiệu quả thấp v́ địa phương nào cũng có thể làm điều này. Thay vào đó địa phương có thể tiến hành quảng bá tiềm năng, các ưu đăi và dự án kêu gọi đầu tư của địa phương, hay việc phát hành tờ rơi, đĩa dữ liệu về đầu tư có thể bỏ túi được. Vấn đề ở đây là cũng có nhiều địa phương có thể xuất bản và cung cấp đĩa cho các nhà đầu tư tiềm năng. V́ vậy phải xác định đúng các nhà đầu tư tiềm năng và có cách tiếp cận hiệu quả. Quảng cáo trên ti vi vừa tốn kém lại kém hiểu quả nhất. Nhưng nếu các nhà thu hút đầu tư đến các văn pḥng đại diện các công ty, các nhà đầu tư ở TP. HCM hay ở nơi nào đó để tŕnh bày nội dung của đĩa đầu tư đă ấn hành th́ sẽ tác động rất nhiều đến hiệu quả thu hút đầu tư, v́ người ta hiểu biết nhiều hơn đến tiềm năng của địa phương; mặt khác, việc tham gia hội chợ cũng mang lại hiệu quả cao cho địa phương kêu gọi đầu tư. Ngoài ra, như nhóm đă tŕnh bày, việc kết nối và chăm sóc những nhà đầu tư cũ là việc làm rất thiết thực và rất có hiệu quả để khuyến khích sự đầu tư mới của đội ngũ nhà đầu tư hiện có, thông qua đội ngũ này họ có thể giới thiệu tiềm năng của địa phương một cách hiệu quả.

Các đại biểu ở nhóm II rất đúng khi có thể lôi cuốn các ngân hàng, chính quyền cho việc khởi sự doanh nghiệp hay khuyến khích tinh thần kinh doanh cho đội ngũ doanh nhân. Bên cạnh đó khâu đào tạo cũng đóng vai tṛ rất quan trọng, v́ các doanh nghiệp mới khởi sự luôn gặp khó khăn nhiều năm đầu tiên về kiến thức kinh doanh. Các nhà quản lư của địa phương thường quan tâm đến các dự án lớn và các quy họach tổng thể nhiều hơn; nhưng các dự án nhỏ thường cho kết quả sớm sẽ rất quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng và giải quyết việc làm.

Trở về đầu trang

 

Thảo luận mở:

Các đại biểu đă sử dụng thẻ để trả lời cho câu hỏi: “địa điểm, các dự án địa phương dự kiến áp dụng PACA?”

Kết quả trả lời:

-         Ngành du lịch (Kiên Giang): thị xă Hà Tiên

-         Đông lạnh thủy sản: thị xă Sa Đéc

-         Du lịch sinh thái: cù lao An B́nh, B. Ḥa Phước, Đông Phú (Long Hồ Vĩnh Long)

-         Chế biến cá nước ngọt: thị xă Châu Đốc (An Giang)

-         Hưng Yên: Củng cố các DNNVV; phát triển các DN; đào tạo nguồn nhân lực

-         Làng nghề đường Thốt Nốt (người Khơ me): huyện Tịnh Biên – An Giang

-         Mở chuyên mục PACA, mở trang web LED, câu lạc bộ LED, mở các hội thảo liên quan đến LED

-         Nên tổ chức LED 6 tháng một lần, địa điểm luân phiên từng tỉnh

-         Lập cơ quan đầu mối điều phối họat động LED ở các địa phương

-         Lập danh sách những người tham gia LED mà GTZ SME tổ chức từ trước tới nay.

Các đại biểu đă nhất trí thành lập CLB LED và tiến hành chỉ định chủ nhiệm CLB:

Kết quả, Ban Chủ nhiệm bao gồm các thành viên:

Khu vực ĐBSCL: Ông Vơ Hùng Dũng - Chủ nhiệm

Bà Chung Thị Kim Minh

Miền Bắc: Ông Doăn Anh Quân

Miền Trung: Ông Nguyễn Cường

Thư kư: Chị Vơ Ḥang Nga

Tổng kết hội thảo:

Mục tiêu của hội thảo như được xác định là hản hồi kết quả của các cuộc hội thảo trước, bổ sung tư liệu nghiên cứu ở Đức, lấy ư kiến lộ tŕnh LED trong thời gian tới và thành lập network về hoạt động PTKTĐP. Và qua thực tế hội thảo đă đạt được các mục tiêu đó, với rất nhiều thông tin từ đại biểu của các địa phương vùng ĐBSCL, miền Trung và miền Bắc. Mặt khác, việc thành lập ban chủ nhiệm Câu lạc bộ LED sẽ mở ra một bước mới trong hợp tác giữa các nhà lănh đạo, chuyên viên địa phương trong triển khai hoạt động LED trong thời gian tới.

Trở về đầu trang