Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có rất nhiều tiềm năng phát triển, nhất là sản xuất nông sản, thủy sản hàng hóa phục vụ xuất khẩu, trong đó tôm là mặt hàng mang lại giá trị kinh tế cao.
Kim ngạch xuất khẩu tôm sang EU, giai đoạn 2016-2020

Nguồn: UN Comtrade
Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng tôm của Việt Nam vào thị trường châu Âu (EU) với các sản phẩm có mã HS 030636 (tôm sống, tươi hoặc ướp lạnh), HS 030617 (tôm nguyên liệu đông lạnh) HS 160521 (tôm chế biến không đóng hộp kín khí), HS 160529 (tôm chế biến đóng hộp kín khí), có nhiều biến động trong 05 năm, từ năm 2016 – 2020. Xu hướng này chủ yếu là tăng trưởng trong giai đoạn năm 2016-2018 và giảm liên tục trong 2 năm sau đó. Đây là dữ liệu được công bố trên cổng thông tin của UN Comtrade.
Số liệu xuất khẩu tôm sang EU theo từng nhóm sản phẩm chính

Nguồn: UN Comtrade
Theo đó, tổng khối lượng xuất khẩu mặt hàng tôm sú và tôm thẻ sang Châu Âu đạt giá trị cao nhất vào năm 2018 với 59.557 tấn, tương đương hơn 600.480 nghìn USD. So với kim ngạch xuất khẩu năm 2016, số liệu này đã tăng khoảng 145%. Tới năm 2019, khối lượng xuất khẩu tôm so với năm trước đó giảm khoảng 5.000 tấn (còn 54.505 tấn), kéo theo giá trị xuất khẩu cũng giảm theo (còn 502.848 nghìn USD). Đỉnh điểm vào năm 2020, do ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 đã tác động đến nền kinh tế - xã hội toàn cầu, các quốc gia Châu Âu cũng không ngoại lệ. Tổng khối lượng nhập khẩu tôm từ Việt Nam giảm còn 44.366 tấn, tương đương 405.461 nghìn USD, gần bằng xuất phát điểm năm 2016. Tuy nhiên, với tác động to lớn và muôn vàn khó khăn mà dịch bệnh gây ra thì số liệu trên là kết quả của việc nỗ lực không ngừng của cả bộ máy quốc gia, chính quyền và bản thân doanh nghiệp, đồng thời năm 2020 đánh dấu cột mốc Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) chính thức có hiệu lực (ngày 01/8/2020) với mong muốn mở rộng cơ hội cho các mặt hàng của Việt Nam sang Châu Âu, đặc biệt là nông thủy sản, do đó kết quả trên rất đáng khích lệ.
Khi phân tích số liệu này theo từng nhóm ngành tôm, có thể thấy nhóm sản phẩm có mã HS 030617 chiếm tỷ trọng xuất khẩu cũng như giá trị kinh tế cao nhất. Các vị trí theo sau lần lượt là các sản phẩm có mã HS 160521 (chiếm khoảng phân nửa so với HS 030617), HS 160529 (bằng khoảng ¼ so với HS 030617), và HS 030636 (không đáng kể).
Đối với nhóm sản phẩm có mã HS 030617, do chiếm đa số trong mặt hàng tôm xuất khẩu nên có xu hướng tương đồng với kim ngạch xuất khẩu tôm trong giai đoạn 2016-2020. Cụ thể, nhóm ngành này liên tục tăng từ năm 2016-2020, chạm ngưỡng 34.795 tấn (tương đương 343.620 nghìn USD) năm 2016. Sau đó, giảm dần trong 2 năm tiếp theo, chỉ còn 25.251 tấn (tương đương 233.699 nghìn USD) vào năm 2020.
Số liệu thống kê cho thấy, vào năm 2017, nhóm sản phẩm có mã HS 160521 có xu hướng tăng so với năm 2016, đồng thời cũng đạt đỉnh trong giai đoạn nghiên cứu 2016-2020 với khối lượng xuất khẩu đạt 16.955 tấn (thu về 174.387 nghìn USD). Trong các năm tiếp theo, số lượng này giảm liên tục và chạm đáy vào năm 2020 với 12.564 tấn, tương đương 106.253 nghìn USD.
Với nhóm sản phẩm HS 160529 lại có xu hướng tương đối khác với các nhóm sản phẩm đã phân tích trên. Cụ thể, khối lượng xuất khẩu đã tăng 176% từ năm 2016-2019, từ 5.373 tấn (tương ứng 54.617 nghìn USD) lên 9.458 tấn (tương đương 93.121 nghìn USD). Sau đó giảm còn 6.549 tấn (tương đương 65.470 nghìn USD) vào năm 2020.
Trong khi đó, các sản phẩm có mã HS 030636 chiếm tỷ trọng không đáng kể, cũng có xu hướng tăng liên tục đến năm 2018, đạt 5.231 tấn, tương đương 93.795 nghìn USD. Sau đó giảm khoảng 300% vào năm tiếp theo, và có mức tăng nhẹ vào năm 2020 với khối lượng xuất khẩu đạt 1.974 tấn, tương ứng với 39.879 nghìn USD.
Phòng Xúc tiến tổng hợp